(Lời kể của ông thư ký nhà thơ về những giây phút cuối đời)
Nhà thơ Wiesława Szymborska đã ra đi với tâm trạng rất thoải mái trên chiếc giường, trong căn phòng tại ngôi nhà của mình. Bà ra đi trong giấc ngủ, thật bình thản, ông Michał Rusinek – thư ký của nhà thơ Wisława Szymborska nói với TVN24. Bà trở về cõi vĩnh hằng hôm thứ tư 01.02.2012 ở tuổi 89 sau thời gian ốm nặng.

Dù rất yếu, bà vẫn có cuộc nói chuyện vào hôm thứ 7 tuần trước. Bà không kêu ca về bệnh tật, có được bao sức lực bà đều dành cho sáng tác thơ. Bà còn để lại rất nhiều trang thơ chưa được công bố, nhất định sẽ được ra mắt trong năm nay, ông thư ký của bà thổ lộ. Người thư ký đồng hành cùng bà suốt 15 năm qua. Thời gian cuối bà có cuộc sống tự lập khá bình thường, nhưng cũng chỉ được 1 năm. Được trao giải thưởng Nobel là sự thay đổi „có tính cách mạng trong cuộc đời của bà”. Bà phấn đấu để có được sự riêng tư, dù có nhiều bề bộn, nhưng cũng là niềm vui lớn, tình thân ái mới, vinh hạnh mới – sự thay đổi tốt đẹp hơn. Ông thư ký của bà Szymborska tâm sự.
Nhà thơ Wisława Szymborska có thể sẽ được chôn cất tại nghĩa trang Rakowicki – Krakow. Trong di chúc của mình nhà thơ muốn được yên nghỉ bên cạnh những người trong gia đình. Chính quyền Kraków sẽ chiều theo ý muốn của nhà thơ.
Wisława Szymborska sinh ngày 2 tháng 7 năm 1923 tại Bnino (hiện là Kórnik) gần Poznan. Thười gian đầu bà sống ở Torun, sau chuyển về Krakow. Thời gian chiến tranh bà từng là công nhân đường sắt. Thời gian này bà bắt đầu viết chuyện và sáng tác thơ. Sau chiến tranh bà học ngành ngôn ngữ học, sau chuyển sang tâm lý học tại Đại học Tổng hợp UJ tại Krakow.
Tác phẩm thơ đầu tay „Szukam słowa” công bố năm 1945, phần phụ lục văn học của báo „Dziennik Polski”. Tập thơ đầu tiên "Dlatego żyjemy" (1952). Nhưng đến 1957 với tập thơ "Wołanie do Yeti" bà mới có được thừa nhận „nhà thơ đích thực” với những tính cách riêng đặc trưng của mình: triết lý, châm biến theo cách ẩn dụ”. Tập thơ tiếp sau như: "Sól" (1962), "Sto pociech" (1967), "Wszelki wypadek" (1972), "Wielka liczba" (1976), "Ludzie na moście" (1986), "Koniec i początek" (1993), "Chwila" (2002), "Dwukropek" (2005) i "Tutaj" (2008). Tổng cộng bà Szymborska đã công bố khoảng 350 bài thơ.
Từ 1952–1966 bà là đồng chủ biên tạp chí „Życie Literackie”, còn từ 1968-1981 bà chủ biên tập san „Lektury nadobowiązkowe”. Năm 1988 là đồng sáng lập Hội Nhà Văn Ba Lan. Từ 1995 bà là Uỷ viên Viện Tài năng, tiến sĩ danh dự Đại học Tổng hợp mang tên Adam Mickiewicz, và từ 1998 là công dân danh dự thành phố Krakow.
Năm 1991 bà được trao giải thưởng Goeth, tiếp sau giải thưởng Herder. Năm 1996 bà được nhận giải thưởng văn học Nobel và năm 2011 bà được trao huân chương Orzeł Biały. Trong lập luận để trao giải thưởng Nobel cho bà năm 1996 Viện Hàn lâm Thuỵ Điển viết: Thơ của bà Szymborska tách ra quy luật của sinh vật và tác động lịch sử trong khoảnh khắc đương nhiên của nhân loại với độ chính xác dù oái oăm.
Thơ của bà Szymborska được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt qua bản dịch của những nhà thơ Việt Nam quen thuộc với cộng đồng Ba Lan như Tạ Minh Châu, Lâm Quang Mỹ, Nguyễn Chí Thuật, Nguyễn Thái Linh.
Xuân Nhung (queviet.pl)
- 21/02/2012 12:47 - Hành khách đi Hà Nội kêu cứu
- 20/02/2012 11:29 - Tin Ba Lan
- 18/02/2012 12:38 - Tin vắn Ba Lan
- 12/02/2012 04:09 - Tin Ba Lan
- 08/02/2012 08:49 - Tin vắn Ba lan
- 01/02/2012 12:01 - Tin Ba Lan
- 27/01/2012 13:22 - TIN BA LAN
- 19/01/2012 11:02 - Điểm tin Ba Lan
- 16/01/2012 10:55 - Tin vắn Ba lan
- 14/01/2012 09:48 - Tin Ba Lan


